IndexTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Thống Kê
Hiện có 4 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 4 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 27 người, vào ngày 12/1/2017, 10:38 am
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Quán Cafe Đẹp YESTERDAY PIANO CAFÉ.
by nhokbmt 8/4/2013, 8:56 pm

» Tăng like Facebook giá rẻ, tăng like FanPages giá rẻ, like ảnh , câu sub
by nhokbmt 26/2/2013, 4:41 pm

» Làm thủ tục hải quan – giao nhận XNK giá rẻ
by nhokbmt 19/9/2012, 3:09 pm

» Tăng like Facebook, viết app (ứng dụng) Facebook giá rẻ
by nhokbmt 27/6/2012, 8:21 pm

» Tăng like Facebook, viết app (ứng dụng) Facebook giá rẻ
by nhokbmt 25/6/2012, 10:26 am

» Bán đất có sổ hồng, Đường nguyễn trung nguyệt, quận 2, giá 1 tỷ 290 triệu
by nhokbmt 25/3/2012, 9:27 am

» CẮM TRẠI THÔI..............!!^^
by +ng0c+ 19/3/2012, 5:15 pm

» Nhất Nguyên: in băng rôn, in quảng cáo, hình ảnh sắc nét, giá cạnh tranh (35.000đ/1 m)
by nhokbmt 4/3/2012, 7:29 am

» SỬA MÁY TÍNH , MÁY IN, ĐỔ MỰC MÁY IN TẠI NHÀ HỒ CHÍ MINH
by tuquynh 28/2/2012, 9:16 am

» Khai giảng lớp luyện thi N2 và N3 tại Trung tâm Nhật Ngữ Top Globis
by tuquynh 28/2/2012, 9:10 am

» Nhất Nguyên: in băng rôn, in quảng cáo, hình ảnh sắc nét, giá cạnh tranh (35.000đ/1 m)
by nhokbmt 28/2/2012, 8:52 am

» Nhất Nguyên: in băng rôn, in quảng cáo, hình ảnh sắc nét, giá cạnh tranh (35.000đ/1 m)
by nhokbmt 28/2/2012, 8:51 am

» DANH SÁCH NHÓM MÔN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG TRONG NGOAỊ THƯƠNG
by LoLo 31/1/2012, 12:55 am

» LỊCH THI HỌC KÌ 5 ĐÃ SỬA ĐỔI
by +ng0c+ 16/12/2011, 5:20 pm

» Giấy các loại giá rẻ Couche, Dulex, Ivory, …v..v..
by nhokbmt 22/11/2011, 9:53 am

» DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH MÔN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
by +ng0c+ 8/11/2011, 5:37 pm

» Thẻ đeo SV mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng !!!
by hoathuytien 23/10/2011, 8:43 am

» vietpon mua sản phẩm chất lượng, giá tốt.
by tuquynh 3/10/2011, 1:47 pm

June 2017
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar

Share | 
 

 APEC - Quan Hệ Kinh tế Quốc Tế

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
HOA_LY
Tiểu học-Lớp 2
Tiểu học-Lớp 2
avatar

Tổng số bài gửi : 28
Tiền : 38
Thank : 0
Join date : 25/12/2009
Age : 26

Bài gửiTiêu đề: APEC - Quan Hệ Kinh tế Quốc Tế   30/3/2011, 11:40 pm

ĐỀ TÀI: APEC

* NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT
II. CƠ CẤU TỔ CHỨC
III. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
IV. THÀNH VIÊN
V. HỘI NGHỊ THƯỜNG NIÊN CỦA APEC
VI. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC CHÍNH CỦA APEC TRONG THỜI GIAN TỚI
VII. NHỮNG LỢI ÍCH, THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM GIA NHẬP APEC
VIII. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ APEC VÀ TRIỂN VỌNG

* THỰC HIỆN

1. Phan Thị Ái Châu
2. Phan Thị Dinh
3. Võ Thị Hạnh
4. Nguyễn Thanh Phong
5. Đặng Thị Tuyết Trinh ( Trưởng Nhóm)
6. Lê Hoàng Tùng
7. Lê Hoa Vàng


I. KHÁI QUÁT

1. Định nghĩa
-> Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation, APEC) là tổ chức quốc tế của các quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.
-> APEC nổi tiếng với truyền thống yêu cầu các nhà lãnh đạo xuất hiện trước công chúng trong quốc phục của nước chủ nhà.
-> APEC được thành lập vào tháng 11 năm 1989 với 12 thành viên sáng lập: Úc, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada và Hoa Kỳ.
-> Hiện nay, APEC gồm 21 thành viên, ngoài 12 thành viên sáng lập, các thành viên khác bao gồm: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hồng Kông, Đài Loan, Mexico, Papua New Guinea, Chile, Peru, Nga và Việt Nam.

2. Mục tiêu
Mục tiêu hợp tác của APEC nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại và nâng cao mức sống kinh tế, thương mại và nâng cao mức sống của từng người dân trong khu vực. APEC khởi đầu với các sáng kiến kinh tế theo ngành. APEC là một nhóm đối thoại lỏng, không có cấu trúc tổ chức và đội ngũ nhân lực hỗ trợ. Cơ quan thường trực APEC Quốc tế có trụ sở tại Singapore. Đó là bộ máy hành chính quy mô nhỏ gồm 20.00 ngoại giao được cử đến từ các nền kinh tế thành viên và 20 cán bộ địa phương với ngân sách khiêm tốn. Mục tiêu được nói nhiều nhất trong APEC là mục tiêu Bogor ra đời năm 1994 tại Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC tại Bogor (Indonesia). Theo đó các nền kinh tế phát triền và đang phát triển cam kết xây dựng một môi trường kinh tế và đầu tư tự do, mở cửa lần lượt vào năm 2010 cho các thành viên phát triển và năm 2020 cho các thành viên đang phát triển.

II. CƠ CẤU TỔ CHỨC
* Cấp chính sách
-> Hội nghị không chính thức các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC (AELM)
-> Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC

III. Cấp làm việc
-> Hội nghị các Quan chức Cao cấp (SOM)
-> Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) (1993)
-> Uỷ ban Ngân sách và Quản lý (BMC) (1993)
-> Uỷ ban Kinh tế (EC) (1994)
-> Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC) (1998)
-> 11 nhóm công tác về: Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng lượng, Nghề cá, Phát triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài nguyên biển, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc tiến thương mại, Vận tải.
*3 nhóm đặc trách của SOM về:
a. Thương mại điện tử (Electronic Commerce Steering Group) (1999)
b. Mạng các điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Points Network) (2003)
c. Chống khủng bố (Counter-Terroism Task Force) (2003)
d. Ban Thư ký APEC (trụ sở ở Singapore) (1992)

IV. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG

1. Lịch sử hình thành

Tháng 1 năm 1989, Thủ tướng Úc Bob Hawke đưa ra lời kêu gọi kiến tạo một sự hợp tác kinh tế hữu hiệu hơn cho toàn vùng châu Á -Thái Bình Dương. Kết quả của lời kêu gọi này là hội nghị đầu tiên của APEC tổ chức tại Canberra, Úc vào tháng 10, hội nghị đặt dưới quyền chủ toạ của bộ trưởng ngoại giao Úc, Gareth Evans. Với sự tham dự của các bộ trưởng đến từ 12 quốc gia, hội nghị kết thúc với lời cam kết sẽ tổ chức hội nghị hàng năm tại Singapore và Hàn Quốc.
Hội nghị Lãnh đạo APEC được tổ chức lần đầu vào năm 1993 khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton nhận ra rằng ông có thể sử dụng hội nghị thượng đỉnh này như một công cụ hữu hiệu giúp đem vòng đàm phán Uruguay (của WTO), lúc ấy đang lạc hướng, trở lại với lộ trình ban đầu. Tổng thống quyết định mời các nhà lãnh đạo những nền kinh tế thành viên đến tham dự hội nghị tại đảo Blake, tiểu bang Washington. Tại đây, các nhà lãnh đạo kêu gọi tiếp tục tháo gỡ những rào cản thương mại và đầu tư, với viễn kiến về một "cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương" sẽ tiến đến thịnh vượng thông qua hợp tác. Trụ sở của APEC được đặt tại Singapore.

2. Quá trình hoạt động
Mặc dù thành lập từ năm 1989, nhưng mãi đến Hội nghị APEC lần 2, diễn ra tại Bogor (Indonesia) vào tháng 11/1994, mới đưa ra được quyết định quan trọng: Đẩy nhanh quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2020. Quá trình được cụ thể hoá trong chương trình hành động OSAKA 1995, Manila 1996. Dưới đây xin giới thiệu một số mốc chính trong quá trình hoạt động của APEC.

* Tuyên bố Bogor:
Được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 2, nội dung tuyên bố gồm 11 điểm, quan trọng nhất là: Xây dựng khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với các nước APEC phát triển và năm 2020 đối với các nước đang phát triển.

* Chương trình hành động OSAKA:
Được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 3, tại OSAKA, Nhật Bản, vào tháng 11/1995. Chương trình hành động OSAKA gồm 2 phần:
-> Phần 1: Tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, gồm 15 lĩnh vực ưu tiên thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá;
-> Phần 2: Hợp tác kinh tế và kỹ thuật, gồm 13 lĩnh vực hợp tác.

* Chương trình hành động Manila:
Được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần 4, họp tại Manila, Philippines, vào tháng 11/1996.

*Kế hoạch hành động Manila gồm 3 phần chính:
-> Kế hoạch hành động riêng của mỗi nước hội viên (IAPs).
Tất cả các nước APEC phải chuẩn bị và cập nhật thông tin cuả các Kế hoạch hành động riêng của mình.
Ở hội nghị Manila này 18 nước hội viên của APEC đã đệ trình và công khai hóa tiến trình thực hiện cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan của nước mình, để thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư từ ngày 1.1.1997 đến năm 2010 hoặc năm 2020 (tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nước). Mỗi kế hoạch hành động riêng của mỗi nước hội viên bao gồm 15 lĩnh vực theo chương trình hành động Osaka.

Các chương trình thuộc những lĩnh vực sau:
o) Thuế quan: liên tục giảm thuế, làm rõ. Công khai hoá chính sách thuế cuả nước mình.
o) Phi thuế quan: liên tục giảm hàng rào phi thuế quan; làm rõ, công khai hoá chính sách phi thuế quan cuả nước mình.
o) Dịch vụ: liên tục giảm những hạn chế để mở cửa cho thương mại dịch vụ; Đặc biệt là 4 lĩnh vực: viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, dịch vụ.
o) Đầu tư: thực hiện tự do hoá chế độ đầu tư dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia, tạo thuận lợi cho đầu tư.
o) Thống nhất tiêu chuẩn hoá và đánh giá sự phù hợp.
o) Thống nhất thủ tục Hải quan.
o) Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
o) Chính sách cạnh tranh công bằng.
o) Công khai hoá kế hoạch thu chi của Chính phủ.
o) Nới lỏng cơ chế quản lý thương mại quốc tế.
o) Xây dựng quy chế xuất xứ hàng hoá xuất nhập khẩu.

Ban hành cơ chế hoà giải tranh chấp giữa các nước APEC.
o) Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh thương mại cuả các nước APEC.
o) Thực hiện những kết quả cuả vòng đàm phán Uruguay (vòng đàm phán WTO).
o) Thu thập và xử lý thông tin của các nước.
Trong các Kế hoạch hành động riêng của mỗi thành viên cần nêu rõ thực trạng, những rào cản trong từng lĩnh vực, các biện pháp để tự do hoá thương mại và đầu tư, cùng lộ trình thực hiện.
-> Kế hoạch hành động tập thể (CAPs)
Nội dung của kế hoạch này là các nước thành viên thuộc APEC cùng tiến hành những biện pháp nhằm loại bỏ những trở ngại cho quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh giảm chi phí khi hoạt động trên thị trường APEC. Có nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện kế hoạch hành động này. Những biện pháp sau đây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại và đầu tư.

Thực hiện sự thống nhất và vi tính hóa hệ thống hải quan của các nước APEC.
o) Tăng cường áp dụng chế độ tối huệ quốc MFN, GSP khi buôn bán giữa các nước hội viên.
o) Giảm dần và tiến tới hủy bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu.
o) Hủy bỏ việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, cũng như các biện pháp hạn chế thương mại bất hợp lý. Gây áp lực với các nước hội viên không đưa ra những biện pháp phi thuế mới cản trở tự do hóa thương mại.
o) Công khai các chế độ, quy định về đầu tư. Xuất bản sách "Hướng dẫn chế độ đầu tư APEC"
o) Thực hiện tiêu chuẩn hóa chất lượng quản trị cho phù hợp với ISO.
o) Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
o) Thống nhất chính sách cạnh tranh bình đẳng.
o) Thuận lợi hóa việc đi lại và giao lưu của doanh nhân...
-> Các hoạt động hợp tác kinh tế - kỹ thuật
Gồm các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi.
Trong APEC, các hoạt động hợp tác kinh tế - kỹ thuật được viết tắt là “ Ecotech”. Tại hội nghị Manila năm 1996, các nhà lãnh đạo cuả các nước thành viên APEC đã thống nhất về 6 khu vực ưu tiên hoạt động trong Ecotech:
o) Phát triển nguồn vốn kinh doanh
o) Tạo điều kiện an toàn và phát triển một thị trường vốn hiệu quả;
o) Củng cố, phát triển cơ sở hạ tầng;
o) Trang bị những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai;
o) Khuyến khích phát triển môi trường cạnh tranh;
o) Khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay, APEC đang phát triển 250 hoạt động cuả Ecotech.

V. THÀNH VIÊN
Danh sách 21 thành viên APEC được liệt kê theo thứ tự thời gian gia nhập:
1. Thành viên sáng lập: tháng 11 năm 1989
-> Úc
-> Brunei
-> Canada
-> Indonesia
-> Nhật Bản
-> Hàn Quốc
-> Malaysia
-> New Zealand
-> Philippines
-> Singapore
-> Thái Lan
-> Hoa Kỳ

2. Tháng 11 năm 1991
-> Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
-> Hồng Kông
-> Trung Hoa Đài Bắc
3. Tháng 11 năm 1993
-> Mexico
-> Papua Tân Guinea
4. Tháng 11 năm 1994
-> Chile
5. Tháng 11 năm 1998
-> Peru
-> Nga
-> Việt Nam

VI. HỘI NGHỊ THƯỜNG NIÊN CỦA APEC
Thứ tự Ngày Quốc gia Địa điểm

1. 6–7 tháng 11 năm 1989 Australia (Úc) Canberra

2. 29–31 tháng 7 năm 1990 Singapore

3. 12–14 tháng 11 năm 1991 Hàn Quốc Seoul

4. 10–11 tháng 9 năm 1992 Thái Lan Bangkok

5. 19–20 tháng 11 năm 1993 Hoa Kỳ Seattle

6. 15 tháng 11 năm 1994 Indonesia Bogor

7. 19 tháng 11 năm 1995 Nhật Bản Osaka

8. 25 tháng 11 năm 1996 Philippines Manila / Subic

9. 24–25 tháng 11 năm 1997 Canada Vancouver

10. 17–18 tháng 11 năm 1998 Malaysia Kuala Lumpur

11. 12–13 tháng 9 năm 1999 New Zealand Auckland

12. 15–16 tháng 11 năm 2000 Brunei Darussalam

13. 20–21 tháng 10 năm 2001 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Thượng Hải

14. 25–27 tháng 10 năm 2002 Mexico Los Cabos

15. 20–21 tháng 10 năm 2003 Thái Lan Bangkok

16. 20–21 tháng 11 năm 2004 Chile Santiago de Chile

17. 18–19 tháng 11 năm 2005 Hàn Quốc Busan

18. 18-19 tháng 11 năm 2006 Việt Nam Hà Nội

19. 8-9 tháng 9 năm 2007 Úc Sydney

20. 22-23 tháng 11 năm 2008 Peru Lima

21. 14-15 tháng 11 năm 2009 Singapore Singapore

22. 13-14 tháng 11 năm 2010 Nhật Bản Yokohama

23. 2011 Hoa Kỳ Hawaii, Honolulu

24. 2012 NgaĐảo Russky

VII. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC CHÍNH CỦA APEC TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Trong vài năm gần đây
-> Hợp tác kinh tế APEC thường tập trung vào các vấn đề sau:
-> Hỗ trợ tích cực tiến trình đàm phán trong khuôn khổ WTO;
-> Thoả thuận Thương mại tự do song phương và khu vực (RTAs/FTAs);
-> Thương mại và An ninh khu vực;
-> Thuận lợi hoá thương mại;
-> Triển khai các Tiêu chuẩn Minh bạch hoá APEC;
-> Cải cách Cơ cấu;
-> Xây dựng năng lực;
-> Rà soát giữa kỳ quá trình thực hiện Mục tiêu Bogor;
-> Tăng cường đối thoại với các đối tác liên quan của APEC;
-> Cải tổ APEC theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả hơn.

2. Trong thời gian tới
-> APEC tập trung vào một số vấn đề chính sau:
2.1. mục tiêu Bogor và 3 trụ cột chính
Mục tiêu Bogor về tự do hoá thương mại và đầu tư:
Năm 2005 đánh dấu nửa chặng đường thực hiện các Mục tiêu Bogor về tự do hoá thương mại và đầu tư vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển. Nhiều người coi việc các thành viên cam kết thực hiện Mục tiêu Bogor là việc lớn lao nhất và ý nghĩa nhất mà APEC đã làm được cho dù mục tiêu này không rõ ràng và mang ý nghĩa chính trị là chính. Việc thực hiện Mục tiêu Bogor được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của APEC.
Với cách tiếp cận đó, năm 2010 được coi là một mốc vô cùng quan trọng của tiến trình APEC. Đó là thời điểm các thành viên phát triển phải đạt được mục tiêu Bogor về thương mại, đầu tư tự do và mở cửa đối với các thành viên khác. Nếu thực hiện được mục tiêu này sẽ tạo ra động lực và cả áp lực lớn lên các thành viên đang phát triển để có thể thực hiện được mục tiêu tương tự vào thời hạn 2020, thậm chí sớm hơn. Ngược lại, nếu các thành viên phát triển không thể hoặc không chủ ý thực hiện những cam kết tự do hoá và mở cửa thì APEC sẽ chịu tổn hại lớn về uy tín và độ tin cậy. Các thành viên sẽ không còn coi trọng APEC. Ý tưởng xây dựng Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương sẽ bị sụp đổ. Và đó cũng có thể là dấu chấm hết cho APEC.
Trong bối cảnh đó, việc tiến hành rà soát giữa kỳ việc thực hiện mục tiêu Bogor (MTST) trong năm 2005 đó đưa ra một Lộ trình đến Bogor là một quyết định chính trị khôn ngoan nhằm tăng cường lòng tin đối với APEC, rằng APEC nói chung và mỗi cá nhân các nền kinh tế thành viên đều đang đi đúng hướng đến Mục tiêu Bogor.
-> Kết quả của MTST cho thấy APEC đã đạt được nhiều thành công trong cả 3 trụ cột là
-> Tự do hoá Thương mại và Đầu tư,
-> Thuận lợi hoá Thương mại và Đầu tư (hay thuận lợi hoá kinh doanh)
-> Hợp tác Kinh tế Kỹ thuật (ECOTECH) cũng như các lĩnh vực phi thương mại

Khác như chống tham nhũng, chống khủng bố, hợp tác phòng chống bệnh truyền nhiễm Năm 2005 với MTST và Lộ trình Busan đến Bogor tạo cảm giác tự do hoá thương mại và đầu tư đang là nội dung hợp tác quan trọng nhất của APEC. Nhưng trên thực tế, trong thời gian qua, đặc biệt từ khi EVSL thất bại, với những khó khăn đặt ra trong quá trình thực hiện tự do hoá, APEC đã tập trung nhiều hơn vào trụ cột Thuận lợi hoá. Có thể nói, đây cũng là lĩnh vực thu được nhiều kết quả thực chất nhất trong thời gian qua và sẽ tiếp tục là trọng tâm của APEC trong những năm tới.
ECOTECH cũng sẽ tiếp tục là một trụ cột không thể thiếu của APEC một khi còn có sự khác biệt đáng kể về trình độ phát triển giữa các thành viên. Tính đa dạng và không đồng đều về trình độ phát triển dẫn đến sự khác biệt về quan điểm, chính sách phát triển và khả năng thực hiện cam kết mở cửa của 21 nền kinh tế APEC. Do đó, nếu tiếp tục chủ trương đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư, các thành viên phát triển cần phải chú trọng hơn nữa đến hợp tác kinh tế kỹ thuật, tạo cơ sở và điều kiện cho các thành viên đang phát triển có thể thực hiện mục tiêu tự do hoá, góp phần thúc đẩy tiến trình tự do hoá của cả APEC. Do APEC không phải là một tổ chức viện trợ phát triển, ECOTECH sẽ được thúc đẩy theo hướng nâng cao về chất và hiệu quả, tập trung vào xây dựng năng lực, phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ. Không chỉ các thành viên đang phát triển được hưởng lợi từ ECOTECH mà các thành viên đang phát triển cũng có thể thông qua đó đó tăng cường vai trò và ảnh hưởng chính trị của mình trong APEC. Đó là cơ sở để tin tưởng ECOTECH sẽ có vai trò quan trọng trong tiến trình APEC.

2.2. Hướng đến một Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương
Sau 15 năm tồn tại và phát triển, APEC đã dần mang những yếu tố và đặc điểm của một cộng đồng; quá trình xây dựng cộng đồng đã được bắt đầu trong nhiều lĩnh vực hợp tác của APEC. Gần đây, bắt đầu xuất hiện ý tưởng thay đổi tên gọi của APEC từ “Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương” thành “Cộng đồng Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương” (“cooperation” thành “Community” thay “c nhỏ” thành “C lớn”). Tuy nhiên, sự mở rộng phạm vi nội dung hợp tác của APEC trong những năm gần đây cho thấy APEC đang hướng đến một cộng đồng gần hơn là một “cộng đồng kinh tế” thông thường.Với mục tiêu phát huy tối đa ưu điểm của nguyên tắc tự nguyện và giảm thiểu nhược điểm và tính cứng nhắc của nguyên tắc đồng thuận, thời gian qua, APEC đã áp dụng cơ chế “Người tìm đường” (path-finder) mà một số học giả còn gọi là "liên minh tự nguyện” (coalition of the willing) hay đơn giản là “21-x”. Cơ chế này làm tăng thêm tính linh hoạt và khả thi trong việc đưa ra các quyết định, cam kết cũng như việc thực hiện các cam kết trong APEC.
Một phương thức khác mà APEC áp dụng ngày càng nhiều là xây dựng các bộ “thông lệ/thực tiễn tốt nhất” (best practices) trong các lĩnh vực khó đạt được ý kiến thống nhất, vừa để các thành viên đi tiên phong chia sẻ kinh nghiệm với thành viên khác, vừa tạo ra những mô hình kiểu mẫu để tăng tính thống nhất, đồng bộ và hội tụ trong quá trình thực thi của các thành viên.
xu thế phát triển mạnh mẽ của các FTA/RTA cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của APEC, đặc biệt trong bối cảnh nhiều thành viên APEC đang đi tiên phong trong đàm phán và ký kết các FTA/RTA với những đối tác trong cũng như ngoài khu vực, trong khi tự do hoá thương mại và đầu tư vẫn là ưu tiên hàng đầu của APEC. Khi điều kiện để hình thành một FTA chung của APEC còn chưa chín muồi thì việc xây dựng bộ “best practices” của APEC về FTA/RTA và khuyến khích các FTA/RTA có điều khoản mở để các thành viên khác có thể tham gia sau là những nỗ lực kịp thời nhằm phát huy mặt tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của làn sóng FTA/RTA mới đối với APEC, làm tăng tính cộng đồng giữa 21 nền kinh tế thành viên.

2.3.Việc cải cách APEC
Nguyên nhân đã và đang cản trở tiến trình APEC:
-> Những cơ cấu có thể là đủ cho một tổ chức mới ra đời trong năm 1989 đến nay đã trở nên bất cập khi APEC bước vào giai đoạn phát triển mới.
-> Những quy phạm đã từng thiết thực cách đây một thập niên nay đã trở thành những hạn chế cản trở APEC thích nghi với thực tế mới.
-> Cơ cấu quản trị của APEC đã trở nên quá phức tạp, quá yếu để có thể đáp ứng các nhu cầu của một tổ chức đang phát triển và cần phải được xem xét lại một cách toàn diện. Những quy định về việc đưa ra quyết định đòi hỏi sự nhất trí 100% của các thành viên thường xuyên làm trì trệ APEC và cần phải được điều chỉnh cho linh hoạt hơn.
-> Tính phổ cập vốn là điểm mạnh của APEC trước đây giờ đã suy giảm đúng vàolúc khu vực tư nhân, giới học giả và các nhân tố khác trong xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền ngoại giao của thế giới. Sản phẩm của APEC ngày càng trở nên hiếm hoi. APEC cần phải làm rõ vai trò của mình trong mở cửa thị trường, hợp tác kinh tế và xây xựng chính sách.
-> Cơ cấu tài chính của APEC yếu kém một cách đáng buồn, không tương xứng với các mục tiêu của APEC. Nếu không có cải cách, APEC sẽ đánh mất tính cạnh tranh so với các diễn đàn đa phương khác…
-> APEC đã thấy được nhu cầu cấp bách phải cải tổ, nhưng xác định đó là một quá trình liên tục và kéo dài. Thực tế, cải cách APEC đã bắt đầu từ lâu nhưng chỉ thực sự được chú ý và bắt đầu tăng tốc từ Năm Chilê - 2004.
-> Đặc biệt, cải cách APEC là một trong ưu tiên hàng đầu của Năm Hàn Quốc - 2005, tập trung vào 3 nội dung chính: nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua cơ chế phối hợp tốt hơn; ổn định tài chính và cải cách liên tục lần lượt được Nhật Bản, Ô-xtrây-lia và Xinh-ga-po chủ trì. Tuy nhiên, những nỗ lực trên đây mới chỉ là bước đầu. Để khôi phục sức sống, sự năng động và uy tín của APEC, 21 nền kinh tế thành viên phải quyết tâm hơn nữa để có thể đưa ra các biện pháp nhằm tăng hiệu quả hoạt động của APEC, trong đó tập trung vào một số l ĩnh vực sau:
-> Cải tổ bộ máy hành chính;
-> Tăng cường quan hệ với các tác nhân liên đới;
-> Đổi mới trong xác định mục tiêu;
-> Tăng cường giám sát và rà soát chéo (monitoring and peer review);
-> Nâng cao hiệu quả phối hợp;
-> Cải cách tài chính.

2.4. Việc mở rộng APEC
Hiện nay, một số nước ở Châu Á và Châu Mỹ đã bắt đầu chiến dịch vận động gia nhập APEC. Đáng chú ý, trong số các ứng cử viên có cả những nước không tiếp giáp với Thái Bình Dương. Do sự không rõ ràng trong quy chế thành viên hiện hành, một trong những việc mà APEC-2007 sẽ phải làm là xác định rõ các tiêu chuẩn về vị trí địa lý đối với một thành viên của APEC và định nghĩa cụ thể “Châu Á – Thái Bình Dương” là gì. Đây không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật vì nó sẽ quyết định khả năng tham gia hay không của một số nước có vai trò kinh tế và chính trị rất quan trọng như Ấn Độ. Việc kết nạp Nga đã từng là một quyết định gây tranh cãi mà APEC cần rút kinh nghiệm. Từ lâu trong APEC đã tồn tại hai quan điểm trái ngược đối với vấn đề mở rộng APEC.
Phía ủng hộ cho rằng APEC cần theo đuổi một chính sách khu vực mở thay vì khép kín và tăng phân biệt đối xử đối với những nước không phải là thành viên, rằng tính đa dạng chính là một ưu điểm của APEC; APEC thậm chí có thể bao gồm cả các thành viên ngoài khu vực vì đây là diễn đàn hợp tác kinh tế vì khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chứ không chỉ giữa các quốc gia và lãnh thổ trong khu vực.
Phía phản đối mở rộng APEC cho rằng sự chênh lệch về trình độ phát triển và khác biệt về văn hoá, quan điểm chính trị và chính sách kinh tế, thương mại giữa 21 thành viên APEC hiện nay đã gây không ít rắc rối và trở ngại cho sự phát triển của tiến trình APEC. Việc kết nạp thêm thành viên mới không chỉ làm các bộ máy của APEC thêm cồng kềnh, phức tạp mà còn ảnh hưởng đến quá trình cải cách chỉ mới được bắt đầu của APEC, và trên hết sẽ giảm tính khả thi của mục tiêu xây dựng Cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, quyết định kết nạp thành viên mới sẽ không chỉ dựa trên cơ sở phân tích tác động của việc mở rộng APEC đối với tương lai của tiến trình này mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị phức tạp, các cuộc vận động, mặc cả, trong hậu trường giữa các thành viên hiện nay với các ứng cử viên gia nhập APEC. Tất cả phải chờ đến Hội nghị Thượng đỉnh APEC năm 2007 để tìm câu trả lời cho vấn đề này

VIII. NHỮNG LỢI ÍCH, THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM GIA NHẬP APEC
1. Lợi ích Việt Nam tham gia APEC

Năm 1998 là một cột mốc trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam: Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC).Là thành viên của APEC có ý nghĩa chính trị và kinh tế quan trọng đối với Việt Nam.
A. Về chính trị
Là thành viên của APEC, Việt Nam có uy tín lớn hơn và tiếng nói có trọng lượng hơn trên trường quốc tế. Các hội nghị bộ trưởng thương mại và ngoại giao hàng năm, và đặc biệt là Hội nghị Cấp cao của các nền kinh tế (từ năm 1993) là cơ hội quý báu để thực hiện các cuộc gặp song phương cấp cao và để tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng trong khu vực.
B. Về kinh tế
Việt Nam có thể tiếp cận tốt hơn với nhiều nguồn vốn hơn, với công nghệ hiện đại và kiến thức quản lý thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư chặt chẽ hơn với các thành viên APEC khác, trong đó có cả những nền kinh tế lớn nhất thế giới (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ca-na-đa). Các sự kiện hàng năm của APEC như Hội nghị Thượng đỉnh CEO APEC, Hội chợ Cơ hội Đầu tư, Đối thoại giữa các nhà lãnh đạo với Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC (ABAC) đang kết nối một cách có hiệu quả các doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp khu vực để làm ăn cùng có lợi.
Vào thời điểm tháng 12 - 2004, 65,6% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là từ các nền kinh tế thành viên APEC, đồng thời các nền kinh tế thành viên APEC chiếm 60% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam và 80% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam.
1.1. Thuận lợi
Cũng như tham gia các tổ chức kinh tế và thương mại khác, khi tham gia APEC, Việt Nam sẽ có những lợi ích cơ bản sau:
1.1.1. Mở thêm một diễn đàn phục vụ mục đích đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ; khắc phục được tình trạng bị các cường quốc lớn phân biệt đối xử, nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế. APEC là tập hợp có thế và lực lớn với nhiều thành viên có vai trò quan trọng kinh tế, chính trị (Mỹ, Trung Quốc, Nhật và Nga) mà ta sẽ có vị trí thành viên bình đẳng đóng góp vào luật chơi chung của cả khu vực. Quan hệ với các thành viên APEC quan trọng với ta cả về kinh tế lẫn chính trị. Tham gia APEC là tham gia cơ chế tiếp xúc đối thoại thường xuyên, không chính thức, đặc biệt ở cấp cao với tất cả các nước lớn ở Châu á - Thái Bình Dương, sẽ mở ra nhiều cơ hội để ta có thể trao đổi và giải quyết mọi vấn đề, bao gồm cả vấn đề chính trị, an ninh để thúc đẩy quan hệ song phương, trong đó có quan hệ với Mỹ, Trung Quốc.
1.1.2. nắm bắt thông tin, cập nhật đầy đủ chiều hướng phát triển của thế giới để định hướng và điều chỉnh chính sách trong nước. APEC là kho thông tin và cũng là trung tâm trao đổi thông tin. Việc thu thập thông tin qua các hoạt động của APEC cũng như việc thiết lập các
mạng thông tin giữa các th ành vi ên trong APEC có lợi cho ta.
1.1.3. Tận dụng các chương trình hợp tác kinh tế-kỹ thuật. Chương trình này bao trùm nhiều lĩnh vực hợp tác với trên 250 dự án đang triển khai, tập trung vào một số vấn đề liên quan tới hợp tác, trao đổi kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, phát triển hạ tầng, tiếp nhận thông tin, phát triển thị trường... mà ta cần và rất có lợi cho các nước đang phát triển, được các nước này đề cao. Những chương trình này đã tạo điều kiện cho ta tham gia phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực và tiếp cận với công nghệ mới trong các lĩnh vực sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nền ktế
1.1.4. nâng cao khả năng quản lý, kinh doanh, mở rộng quan hệ thương mại, và đầu tư, thâm nhập thị trường: Các đối tác kinh tế của ta chủ yếu là trong APEC và là thị trường nhiều tiềm năng chưa được khai thác hoặc khai thông. Tham gia APEC, ta có cơ hội đối thoại chính sách với các nước phát triển hơn, hoặc phối hợp quan điểm với các nước khác trên các diễn đàn quốc tế nhằm giải toả các rào cản thương mại, đấu tranh đòi đối xử công bằng trong thương mại và trong quan hệ với các nước.
1.1.5. Trao đổi kinh nghiệm, tạo thêm động lực thúc đẩy phát triển nội lực của các doanh nghiệp và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước, tăng tính cạnh tranh khu vực. Thông qua hợp tác APEC, Việt Nam có cơ hội nâng cao năng lực quản lý và sản xuất trong nước, đẩy mạnh công cuộc cải cách cơ chế chính sách trong nước theo hướng minh bạch hơn, bình đẳng và thuận lợi hơn cho các hoạt động kinh doanh, đồng thời ta cũng khai thác được kinh nghiệm và các nguồn lực quốc tế nhằm xây dựng các khung khổ pháp lý theo định hướng nền kinh tế thị trường. Trong thời gian hợp tác vừa qua, ta đã huy động được sự hỗ trợ của APEC vào rất nhiều chương trình xây dựng và cải cách pháp luật như: Luật Cạnh tranh và chống độc quyền, luật thương mại, pháp lệnh thương mại đi ện tử.
1.1.6. Cơ chế hợp tác tự nguyện trong APEC là tiền đề tốt chuẩn bị cho việc hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, là bước chuẩn bị cho việc đàm phán gia nhập WTO. APEC đóng vai trò là diễn đàn đối thoại, trao đổi, hợp tác, hỗ trợ trên cơ sở tự nguyện. Các cam kết không mang tính ràng buộc, do đó không gây sức ép mà mang tích khuyến khích, thúc đẩy. Các diễn đàn trong APEC cũng là cơ hội để các nước đang phát triển như Việt Nam kêu gọi sự trợ giúp và linh hoạt trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Đồng thời, như đã đề cập trên đây, quá trình hợp tác APEC cũng góp phần đáng kể nâng cao năng lực của nền kinh tế. Chính vì vậy, sự tồn tại của quá trình này có vai trò quan trọng trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế của mình trong khuôn khổ ASEAN và tới đây là WTO.

2.2. Khó khăn
Mặc dù có nhiều thuận lợi và cơ hội nhưng tham gia vào quá trình hợp tác APEC cũng có nhiều khó khăn thách thức chính, trong đó có cả những thách thức chủ quan và khách quan.
2.2.1. Nhận thức về APEC trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của cán bộ, giới doanh nghiệp, quần chúng nhân dân chưa nhiều. Vấn đề này một phần là do công tác tuyên truyền, phổ biến về APEC mới chỉ được thực hiện ở mức độ hạn chế cả về nội dung và đối tượng. Mặt khác, một bộ phận lớn các doanh nghiệp còn tỏ ra thờ ơ, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và lợi ích mà APEC mang lai cho chính bản than họ.
2.2.2. Hệ thống pháp luật về thương mại con nhiều bất cập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Cho tới nay, hệ thống chính sách thương mại và các chính sách vĩ mô có liên quan khác của ta vẫn còn nhiều bất cập và không đồng bộ, chưa thực sự khuyến khích được việc mở rộng quan hệ buôn bán, đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật của Việt Nam trong APEC: nhiều biện pháp chính sách tạo lợi thế cho kinh tế thương mại mà các tổ chức quốc tế thừa nhận, thì ta lại chưa có (thí dụ chế độ hạn ngạch thuế quan, biện pháp cân bằng thanh toán, quyền tự vệ, qui chế xuất xứ, chống bán phá giá, chính sách cạnh tranh...). Trong khi đó, ta lại áp dụng một số biện pháp, chính sách không phù hợp với thông lệ kinh doanh quốc tế và nguyên tắc của các tổ chức quốc tế.
2.2.3. Hạn chế về nguồn nhân lực. Hiện ta đang thiếu đội ngũ cán bộ giỏi có chuyên môn và kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trình độ cán bộ tham gia trực tiếp vào công tác hội nhập cũng như thực hiện các cam kết quốc tế nhìn chung còn yếu kém. Một trong số những nguyên nhân là từ trước tới nay ta chưa có một chính sách quy hoạch đồng bộ và ưu tiên thích đáng. Vấn đề thực thi chính sách còn nhiều bất cập cũng có một phần nguyên nhân là sự hạn chế về trình độ chuyên môn và năng lực thực thi pháp luật. Cụ thể hơn, sự hạn chế hiểu biết về cơ chế thị trường và sự vận hành của nó, các học thuyết, các quy định của thương mại quốc tế, các vấn đề nổi cộm trong thương mại quốc tế đang gây trở ngại cho việc tham gia một cách chủ động và xây dựng trong hợp tác APEC.
2.2.4. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhìn chung còn yếu kém, mặt khác ta chưa khai thác triệt để các cơ hội trong APEC để phục vụ cho các doanh nghiệp. Những nỗ lực ban đầu là đáng kể nhưng chưa thể so sánh với tiềm năng cơ hội của quá trình hợp tác này. Có thể nêu một vài hoạt động chư được khai thác như sau:
Doanh nghiệp Việt Nam chưa thông qua hợp tác APEC để khai thác thông tin về thị trường, về chính sách thương mại và chính sách đầu tư của các Thành viên APEC. Nguyên nhân chủ yếu là do hầu hết các doanh nghiệp chưa quan tâm tới tiến trình này, hoặc chỉ coi đây là công việc của chính phủ mà chưa nghĩ tới việc khai thác nó để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình.
Các hoạt động tham gia của doanh nghiệp rất hạn chế do điều kiện khó khăn về tài chính. Chính vì vậy số lượng doanh nghiệp tham gia các hội chợ đầu tư, diễn đàn doanh nghiệp trẻ, hoặc các hoạt động giao lưu khác còn hạn chế.
2.2.5. Khó khăn mang tính khách quan trong hợp tác APEC là tính bị động và lệ thuộc của các nền kinh tế nhỏ và đang phát triển. Những nền kinh tế này, chủ yếu là do hạn chế về tiềm lực kinh tế, có lợi ích hạn chế hơn và có xu hướng bị lệ thuộc vào quan điểm của các nước lớn. Ví dụ, các nước lớn có thể đưa vào chương trình nghị sự những nội dung có lợi nhiều hơn cho mình (ví dụ như chống khủng bố) và thường có sự chuẩn bị rất tốt để phát huy cơ hội đó, trong khi đó, các nước nhỏ hơn vẫn có cơ hội tương tự, nhưng thường không có đủ năng lực để phát huy. Vấn đề chính ở đây là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động thì sự bị động và lệ thuộc sẽ hạn chế rất nhiều cơ hội và lợi ích của các nước nhỏ đang phát triển như Việt Nam.

IX. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ APEC VÀ TRIỂN VỌNG
1. một số đánh giá về APEC:

1.1. APEC được mô tả theo nhiều cách khác nhau: Một tiến trình, một diễn đàn.
Đến nay, APEC vẫn chưa phải là một tổ chức quốc tế theo đúng nghĩa của nó. Có thể nói đơn giản, APEC là một Diễn đàn hợp tác không chính thức để các nền kinh tế trong khu vực tham khảo và trao đổi quan điểm, phối hợp các hoạt động và chính sách kinh tế nhằm duy trì và thúc đẩy hơn nữa quá trình hợp tác và liên kết kinh tế đã và đang diễn ra ở CA-TBD, tiến tới thực hiện mục tiêu tự do hoá hoàn toàn về thương mại và đầu tư ở khu vực vào năm 2020.
Do tính đa dạng của khu vực CA-TBD, bao gồm những quốc gia lớn nhất và nhỏ nhất, những nước giàu mạnh nhất và những nước còn rất nghèo nàn, lạc hậu, những khác biệt về thể chế chính trị và mô hình phát triển kinh tế, APEC đã phải dần tìm ra và thực hiện phương thức hợp tác độc đáo, phù hợp với đặc điểm của khu vực, đó là "phương thức APEC". Qua các văn kiện của APEC và diễn văn của các nhà lãnh đạo các nước cho thấy "phương thức APEC" bao gồm một số nguyên tắc cơ bản như : tôn trọng lẫn nhau, tự chủ tự nguyện ; hiệp thương nhất trí, bình đẳng cùng có lợi ; thừa nhận tính đa dạng và cho phép linh hoạt, mềm dẻo... Các thành viên của APEC thường được nhắc tới với tư cách là "các nền kinh tế" chứ không phải là các quốc gia có chủ quyền như các tổ chức quốc tế khác. Điều này cho phép APEC có thể kết nạp đồng thời cả Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, nhưng sẽ cản trở APEC có thể mở rộng nội dung ra bàn các vấn đề liên quan đen

1.2. APEC được coi là một tiến trình còn đang vận động và phát triển, ngày càng hoàn thiện về cơ cấu và vai trò
- Mặc dù tại Hội nghị Bogor 11/1994, APEC quyết định ngừng kết nạp thành viên mới cho đến 1997, hiện nay đã có thêm 11 nước và lãnh thổ nộp đơn xin gia nhập tổ chức này . Điều đó chứng tỏ APEC là một Diễn đàn có sức sống, đáp ứng yêu cầu và lợi ích chính đáng của đông đảo các nền kinh tế trong khu vực CA-TBD
- Xét về cơ cấu tổ chức, APEC phát triển từ một diễn đàn tham khảo ý kiến lỏng lẻo thành một cơ chế chủ yếu nhằm thúc đẩy đối thoại khu vực và hợp tác kinh tế, và đang dần dần được thể chế hoá thành một tổ chức chặt chẽ hơn với mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư ở CA-TBD. Hiện APEC đã có 10 nhóm làm việc(3) với chức năng cơ bản là tiến hành khảo sát về tiềm năng phát triển nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nước thành viên trong các lĩnh vực rộng lớn như phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo vệ môi trường... Các nước thành viên APEC đã xây dựng được những mối liên hệ giữa các quan chức chính phủ với giới kinh doanh và giới học giả nhằm tạo ra tính năng động và hiệu quả của quá trình hợp tác giữa các thành viên
Ngoài Ban thư ký, Uỷ ban về buôn bán và đầu tư, Uỷ ban về ngân sách và hành chính cùng một số tiểu ban đặc biệt, điều đáng chú ý trong cơ cấu tổ chức của APEC là sự tồn tại của nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG), hoạt động với tư cách là nhóm cố vấn đề xuất các kiến nghị về triển vọng và các biện pháp để tăng cường hợp tác kinh tế và thúc đẩy tự do hoá thương mại-đầu tư.
Với Hội nghị bước ngoặt ở Seattle 11/1993, APEC đã khởi động tiến trình thể chế hoá về cơ cấu tổ chức và đề ra được viễn cảnh cho tương lai nhằm xây dựng một "Cộng đồng kinh tế CA-TBD". Những Hội nghị cấp cao tiếp theo của APEC ở Bogor (Indonesia) năm 1994, Osaka (Nhật Bản) năm 1995, và Manila (Philippin) năm 1996 đã từng bước biến APEC từ một Diễn đàn đối ngoại thành một Diễn đàn hành động và bước đầu đã đem lại kết quả trên thực tế, ngày càng phát huy vai trò và ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống kinh tế và chính trị ở khu vực.
1.3. Tiến trình APEC đang và sẽ có những tác động sâu sắc và rộng lớn đối với hầu hết các nước lớn và nhỏ ở khu vực.
Nếu những mục tiêu và kế hoạch của APEC được thực hiện thành công thì nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế to lớn biến khu vực CA-TBD rộng lớn thành khu vực buôn bán và đầu tư tự do (vào năm 2020), thúc đẩy hơn nữa tiến trình tự do hoá toán cầu mà còn có ý nghĩa và tác động sâu sắc về an ninh trong khu vực.
So với tổ chức Thương mại thế giới (WTO), APEC có cùng chung mục tiêu là thúc đẩy tự do thương mại, nhưng khác ở chỗ hoạt động của APEC mang tính tự nguyện, không có cơ chế giải quyết tranh chấp, phạm vi hợp tác rộng và sâu hơn bao gồm cả hợp tác kinh tế và kỹ thuật ; định ra được mục tiêu cụ thể về một khu vực mậu dịch và đầu tư tự do, có cơ chế họp cấp cao thể hiện quyết tâm và áp lực chính trị đối với việc thực hiện các cam kết tự nguyện, đồng thời thúc đẩy đạt được và thực hiện các thoả thuận tại WTO như Hiệp định công nghệ và thông tin vừa qua ở Singapore. Như vậy APEC có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ cho WTO nhằm đạt được mục tiêu lớn lao là phát triển và thịnh vượng ở khu vực và rộng hơn trên toàn cầu.
APEC là một Diễn đàn hợp tác xưa nay chưa từng có, lôi kéo sự tham gia đồng thời của Trung Quốc (một cường quốc đang nổi lên), Mỹ (siêu cường duy nhất), Nhật Bản (cường quốc số 2 về kinh tế và đang vươn lên về chính trị, quân sự) và trong tương lai - của Nga (đã từng một thời là siêu cường) trong một khu vực mà bất ổn và kình địch từng ngự trị suốt một thế kỷ qua, mở ra khả năng hợp tác giữa các nước lớn này và tạo điều kiện thuận lợi để duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Đồng thời APEC còn tạo ra khuôn khổ khu vực để giải quyết các mâu thuẫn thương mại, đặc biệt giữa Mỹ với Nhật Bản và Trung Quốc, ổn định các nền kinh tế trong vùng.
Các nước vừa và nhỏ ở khu vực đều nhận thức được những thách thức to lớn mà họ phải đương đầu khi tham gia và thực hiện các cam kết trong APEC. Nhưng đồng thời họ cũng thấy được những cơ hội to lớn, đó là tiếp cận được với những thị trường lớn, đón bắt được những luồng đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển; có môi trường để thử sức và nâng sức cạnh tranh, có tiếng nói trong đàm phán đa phương có cùng một luật chơi điều tiết các quan hệ buôn bán, đầu tư... tương đối ổn định. Vì vậy cho đến nay, hầu hết các nước vừa và nhỏ trong APEC đều thể hiện quyết tâm cao tham gia tích cực vào tổ chức này.

2. Một số vấn đề đặt ra và triển vọng của APEC
Một số thách thức và vấn đề đặt ra cho APEC trong thời gian tới
2.1. Cho đến nay APEC đã thành công trong việc đề ra được "chương trình hành động" chung của tổ chức và "chương trình hành động" riêng lẻ của từng nước thành viên, tiến tới tự do hoá thương mại và đầu tư trong từng nước thành viên để rồi tiến tới tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực vào năm 2020. Tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp khó khăn và thử thách do:
- Tính đa dạng và phức tạp của khu vực với các nước có cơ cấu kinh tế cũng như trình độ phát triển rất khác nhau. Vì vậy, những ưu tiên phát triển kinh tế cũng như cách đề cập đối với các lĩnh vực hợp tác của các nước thành viên cũng khác nhau.
- Do tính chất không bắt buộc của các cam kết nên trong quá trình thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư, hợp tác kỹ thuật, sẽ nảy sinh những kho khăn và bất đồng.
- Các yếu tố phi kinh tế như văn hoá, lịch sử, môi trường, an ninh... cũng sẽ có những tác động nhất định đến hợp tác kinh tế giữa các nước cũng như tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư ở khu vực.
Những yếu tố này có tác động qua lại với nhau và làm cho APEC tiến triển chậm hơn so với thời gian qua. Do đó vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay là các nước thành viên phải nỗ lực hết sức để xây dựng lòng tin trong quá trình hợp tác và thực hiện các cải cách tự nguyện nhằm nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế của mình và từng bước phá bỏ hàng rào quan thuế và phi quan thuế, tiến tới đạt được mục tiêu của Tuyên bố BOGOR(1994).
2.2. Hiện nay các nước thành viên vẫn chưa hoàn toàn nhất trí về chiều hướng phát triển của APEC. Mỹ muốn APEC phát triển thành một tổ chức chặt chẽ, thực dụng hơn đáp ứng lợi ích của Mỹ. Đồng thời các nhà lãnh đạo của Mỹ như Tổng thống Clinton và cựu Ngoại trưởng Christopher đều nói đến viễn cảnh một ngày nào đó APEC sẽ không chỉ bao hàm các yếu tố kinh tế mà cả các yếu tố an ninh, chính trị. Quan điểm này trùng hợp với ý tưởng của Úc và Canada.
Trung Quốc, ngược lại công khai nhấn mạnh chỉ duy trì APEC ở mức Diễn đàn, không thể chế hoá APEC thành một tổ chức, không đưa thêm các vấn đề chính trị, an ninh vào nội dung vận động. Trung Quốc đề cao hợp tác kinh tế, kỹ thuật bao gồm phát triển nguồn lực, thiết lập mạng thông tin, hợp tác về tiêu chuẩn hoá và nghiên cứu khoa học... Nhưng Mỹ, Nhật lại không mặn mà với đề nghị này.
Các nước vừa và nhỏ trong APEC về cơ bản cũng không muốn APEC tiến triển quá nhanh cả về cơ cấu tổ chức lẫn nội dung hoạt động vì sợ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước không điều chỉnh kịp và không chống đỡ nổi với sự cạnh tranh của các nước phát triển, và vai trò của các nước vừa và nhỏ trong APEC sẽ mờ nhạt đi.
Chính vì sự khác biệt về nhận thức, quan điểm giữa các nước thành viên nên "phương cách APEC" ngày càng được nhấn mạnh trong hoạt động của APEC. Điều đó sẽ làm cho APEC không thể phát triển nhanh như một số nước phát triển của APEC mong muốn.
2.3. Các nước thành viên APEC cũng chưa nhất trí được với nhau về việc kết nạp thêm thành viên mới.
Hội nghị cấp cao của APEC lần thứ 4 ở Philippin (11/1996) đã thoả thuận là trong năm 1997, APEC sẽ tập trung định ra các tiêu chuẩn cụ thể mà các quốc gia cần phải hội đủ khi muốn gia nhập APEC. Các tiêu chuẩn này gồm nhiều điểm, trong đó có 3 điểm chính
- Vị trí địa lý : phải thuộc khu vực CA-TBD.
- Quyết tâm theo đuổi kinh tế thị trường.
- Cam kết theo đuổi các mục tiêu của Hội nghị cấp cao lần thứ hai ở Bogor và thực hiện các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu đó.
Hội nghị Thượng đỉnh Vancouver (Canada) 1997, sẽ công bố tiêu chuẩn cụ thể ; năm 1998, APEC sẽ xem xét và tuyên bố nước được kết nạp, và các thành viên mới chỉ được tham dự từ năm 1999. Vấn đề hiện nay đang đặt ra là trong số 11 nước đang nộp đơn xin gia nhập APEC thì đến năm 1998 sẽ có bao nhiêu nước được kết nạp, nước nào được kết nạp trước, nước nào sau…
2.4. Cần thay đổi cách thức xử lý tranh chấp thương mại của các nước CA-TBD, đặc biệt là của Mỹ.
Những năm gần đây liên tục nổi lên các tranh chấp trong quan hệ thương mại giữa Mỹ và các bạn hàng chủ chốt ở Đông A', Mỹ đang có xu hướng gắn chính sách thương mại với vấn đề tiêu chuẩn lao động, vấn đề bảo vệ môi trường, và vấn đề chính trị như nhân quyền. Hơn nữa Mỹ còn dùng các biện pháp đơn phương như đe doạ sử dụng Điều khoản 301 để gây sức ép với một số nước Đông A' nhằm mở cửa các thị trường này cho hàng hoá của Mỹ.
Xu hướng giải quyết tranh chấp thương mại theo kiểu này sẽ gây nguy cơ gây mất ổn định nghiêm trọng trong quan hệ kinh tế ở CA-TBD. Vì vậy để thúc đẩy hợp tác kinh tế trong nội bộ APEC, các chính phủ APEC cần phải thông qua quy tắc giải quyết sao cho các tranh chấp thương mại không chỉ được thảo luận mà còn phải được giải quyết một cách khách quan hợp tình hợp lý, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
2.5. APEC có thể mở rộng nội dung sang bàn các vấn đề chính trị, an ninh không?
Đa số các nước thành viên APEC chưa hưởng ứng với đề nghị này với hai lý do chủ yếu sau:
- Các vấn đề kinh tế trong chương trình nghị sự của APEC đã quá nặng, vì vậy không cần bổ sung thêm các vấn đề an ninh nữa.
- Hiện nay Trung Quốc và Đài Loan đều là thành viên APEC, và do đó Trung Quốc không bao giờ chấp nhận thảo luận các vấn đề an ninh khu vực với sự tham gia của Đài Loan. Nếu APEC chấp nhận thảo luận các vấn đề an ninh thì họ phải gạt hoặc Trung Quốc, hoặc Đài Loan ra ngoài.
Tóm lại, tương lai của APEC trong 10 đến 20 năm tới vẫn còn là một vấn đề. APEC có thể sẽ tiếp tục phát triển theo phương hướng mà các nhà lãnh đạo APEC đã đạt được tron các Hội nghị Bogor, Osaka và Manila. Theo kịch bản này thì Chương trình hành động tự nguyện của từng thành viên về cơ bản được các thành viên khác chấp nhận, và được đưa vào thực hiện theo mục tiêu của chương trình hành động chung của APEC. Nếu vậy, CA-TBD sẽ trở thành khu vực tự do thương mại mở với không chỉ các nước trong khu vực mà với cả các nước ngoài trong khu vực vào năm 2020.
Nhưng dù thế nào đi nữa thì APEC hiện vẫn là một cơ cấu tổ chức quan trọng nhất ở trong khu vực CA-TBD mà các nước lớn, nhỏ đều có tiếng nói nhất định và chia sẻ mục tiêu tự do hoá và hợp tác vì sự thịnh vượng của từng nước và của cả khu vực. Tiến trình APEC sẽ có tác động không nhỏ đến vị trí và vai trò của khu vực CA-TBD trong nền kinh tế và chính trị thế giới ở thế kỷ 21.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

APEC - Quan Hệ Kinh tế Quốc Tế

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: CXN5/2 :: Học Tập-